Nghe thẩm định dành cho các Audiophile

647

Việc nghe thẩm định – nghe để đánh giá chất lượng của các thiết bị audio bằng cách lắng nghe và phân tích hoàn toàn khác với việc nghe thưởng thức. Mục đích của việc nghe thẩm định không phải dành cho những trải nghiệm về âm nhạc mà để quyết định xem hệ thống hoặc thiết bị audio đó có âm thanh hay hay dở và lý do tại sao. Khi muốn kiểm chứng những gì mình nghe, người nghe cần xác định được các giá trị cần được đánh giá đối với việc tái tạo âm thanh. Người nghe có thể sử dụng những thông tin đó để đánh giá và lựa chọn thiết bị, phối ghép nên hệ thống hoàn thiện. Mai A biên dịch và tổng hợp

Tầm quan trọng của nghe thẩm định  

Việc đánh giá dựa trên đôi tai là điều thiết yếu bởi các thiết bị đo lường chưa đủ khả năng mô tả chất lượng trình diễn âm nhạc của các sản phẩm audio. Cơ chế nghe của con người nhạy cảm và phức tạp hơn trăm ngàn lần những thiết bị kiểm định tiên tiến nhất hiện nay. Mặc dù các thông số kỹ thuật vẫn là cơ sở đáng tin cậy để lựa chọn thiết bị, song đôi tai mới là yếu tố phán quyết cuối cùng. Hơn nữa, sự khác biệt trong khả năng biểu đạt cảm xúc âm nhạc của mỗi thiết bị chỉ có thể cảm nhận được theo cách chủ quan.

Rất nhiều người khi mới tiếp xúc với các thiết bị tái tạo âm nhạc chất lượng cao hay đặt câu hỏi: “Dựa vào đâu để đánh giá một thiết bị audio?” Đa phần trong số đó tin rằng chỉ cần dựa vào những đo lường kỹ thuật là có thể đánh giá được mọi yếu tố có liên quan đến khả năng trình diễn của sản phẩm. Song trên thực tế, nếu những thiết bị đo lường đó làm được điều này thì tại sao vẫn cần những buổi nghe thẩm định nặng tính chủ quan do đôi tai người quyết định?

Một vấn đề khác nảy sinh, đó là các thiết bị đo lường, kiểm tra và so sánh những sản phẩm audio có xu hướng lượng hoá các yếu tố theo hai chiều: độ méo của sản phẩm, tần số đáp ứng, độ can nhiễu, và một số yếu tố khác. Tuy nhiên, nghe nhạc là một trải nghiệm gồm ba chiều mà độ phức tạp của nó cao gấp nhiều lần so với bất kỳ một tập hợp số nào (kết quả của một quá trình lượng hoá). Làm sao người nghe có thể biến đổi một loạt các biểu thức toán học, vật lý để ra quyết định xem nên chọn ampli này hay ampli kia, và liệu những biểu thức phức tạp ấy có lý giải được tại sao bản nhạc đó lại có thể khiến bạn rung động tới mức gai người?

Dẫu có sử dụng bao nhiêu thiết bị đo lường tối tân đi chăng nữa thì cũng không thể đo được mức độ biểu đạt âm nhạc của các thiết bị audio. Nếu phải lựa chọn giữa một trong hai đầu đọc CD để làm nguồn chơi nhạc trong vòng năm năm tới, tôi thà dùng mười phút để nghe mỗi thiết bị trong phòng nghe còn hơn dùng mười tiếng với mỗi thiết bị trong phòng kiểm định. Cho đến thời điểm này, các thiết bị kiểm định vẫn chỉ là thứ công cụ thô sơ, thua xa công cụ thẩm định mạnh mẽ nhất từ trước tới giờ: bộ não người.

Một loại ampli đèn điện tử có tên gọi “đèn single-end ba cực” là ví dụ tiêu biểu cho sự hạn chế của các công cụ đo lường trên khía cạnh hiệu quả về mặt tái tạo âm nhạc của các thiết bị audio. Tất cả các ampli đèn single-end ba cực đều cho những kết quả đo tệ đến mức thảm hại với độ méo cao, công suất cực thấp (hầu hết đều dưới 10 w/kênh) và chỉ có thể chơi với một vài loại loa nhất định. Song cũng chính loại ampli này lại cho thứ âm thanh truyền cảm, mê hoặc không thể chối cãi.

Hầu hết mọi người có thể chỉ ra được sự khác biệt giữa âm thanh hay và âm thanh dở, song việc khám phá sản phẩm đó đạt yêu cầu về nhạc tính hay không, khả năng nhận biết và mô tả những điểm khác biệt dù là nhỏ nhất trong âm thanh… đều là những kỹ năng cần được rèn luyện. Cũng giống như những kỹ năng khác, khả năng nghe thẩm định sẽ được nâng cao thông qua thực hành: nghe càng nhiều, càng có thể cảm nhận được những điểm khác biệt nhỏ trong âm thanh do hệ thống tái tạo. Từ đó có thể mô tả được sự khác biệt giữa trong âm thanh của mỗi loại thiết bị, và lý giải nguyên do.

Phẩm chất của audiophile  

Âm thanh hay đồng nghĩa với những thoả mãn về cảm xúc âm nhạc được tái tạo bởi một hệ thống audio. Nếu một ai đó mời bạn đến nhà để thưởng thức hệ thống hi-fi của anh ta, bạn có thể chỉ ra được ngay lập tức, anh ta là người yêu nhạc hay người mê máy – chỉ tập trung vào âm thanh nhiều hơn là âm nhạc. Nếu anh ta bật nhạc thật to, liên tục đổi đĩa và và các track nhạc rồi cứ sau mỗi 30 giây lại vặn nhỏ để dò xét nhận định của bạn thì chắc hẳn đây không thể là một người yêu nhạc. Ở một trường hợp khác, nếu anh ta hỏi bạn thích nghe loại nhạc gì và chọn một chương trình để chơi với mức âm lượng vừa phải rồi ngồi xuống nghe cùng bạn với một thái độ tập trung, yên tĩnh trong vài chục phút, rất có thể người đó đã có những những phẩm chất mà một audiophile cần có hoặc đơn giản hơn, anh ta là người rất quan tâm đến âm nhạc.

Trường hợp đầu tiên, người đó muốn gây ấn tượng với bạn bằng âm thanh. Trường hợp thứ hai, người đó cũng muốn gây ấn tượng bởi hệ thống của họ nhưng thông qua âm nhạc chứ không phải thứ âm thanh khiến căn phòng rung động. Đây là điểm khác biệt căn bản giữa người chơi máy và người yêu nhạc.

Có những người chỉ mới nghe nhạc được một lúc đã phải cất tiếng bình phẩm về ưu – nhược của hệ thống. Rất có thể họ bị tác động bởi những thứ âm thanh đầy vẻ hào nhoáng từ các show room hay ở nhà một người chơi máy nào đó. Khi bạn bắt đầu nghe nhạc ở nhà người khác hoặc ngoài cửa hàng audio, không nhất thiết phải bộc lộ quan điểm của mình về âm thanh. Hãy ngồi tĩnh lặng và nghe một cách tập trung với đôi mắt nhắm, để âm nhạc – chứ không phải âm thanh – cho bạn thấy hệ thống đó hay tới mức nào.

Khi nghe cùng với một nhóm, bạn cũng không nên bị lung lay bởi ý kiến của những người xung quanh. Tuy nhiên, nếu họ là những người nghe giàu kỹ năng, bạn nên gắng hiểu những gì họ đang bàn luận. Lắng nghe những mô tả, so sánh ý kiến của họ với cảm nhận của bạn. Song cũng không nên giữ khư khư những nhận định của người khác trong đầu. Ví như trong trường hợp bạn không cảm nhận được sự khác biệt giữa hai sợi dây tín hiệu, đừng ngại ngần nói ra điều đó. Hơn nữa, nên thành thực bày tỏ ý kiến khi được hỏi về một hệ thống nào đó mà mình được nghe. Nếu âm thanh dở, hãy cho họ biết bạn thấy nó dở.

Bất kỳ một thiết bị audio nào cũng ảnh hưởng tới tín hiệu âm thanh đi qua. Một số sản phẩm bị sai âm khi thêm thắt những đặc tính không đáng có ví như tiếng treble sạn hoặc tiếng bass lùng bùng. Một số thiết bị khác lại khiến cho âm thanh bị hụt, ví như một cặp loa nhỏ không thể tái tạo được những tần số cực thấp. Nếu một số âm thanh nào đó của bản nhạc không được tái tạo trọn vẹn, ngay lập tức tiềm thức từ não bộ sẽ cho bạn biết thứ âm thanh đó thiếu những yếu tố gì song bạn vẫn có thể thưởng thức âm nhạc một cách thoải mái. Tuy nhiên, nếu hệ thống tái tạo lại thêm một số đặc tính cho âm thanh, bạn sẽ luôn bị ám ảnh rằng những gì bạn đang nghe được là một sản phẩm tái tạo, không phải “đồ thật”.

Một audiophile có kiến thức sâu rộng về âm nhạc và có kinh nghiệm về việc chúng được tái tạo như thế nào mới hiểu được tầm quan trọng của những sự khác biệt dù là nhỏ nhất trong việc tái tạo âm nhạc của bộ dàn. Những cải thiện nhỏ có thể mang lại khác biệt lớn trong toàn bộ màn trình diễn của hệ thống.

Một thực tế đáng buồn rằng, mỗi khi bạn cho tín hiệu đi qua một thiết bị audio thì kết quả đầu ra không bao giờ bằng tín hiệu gốc. Do đó, người chơi nên tối giản các linh kiện, thiết bị trong hệ thống, loại bỏ những thiết bị điện tử không thực sự cần thiết giữa người nghe và âm nhạc.

“Bẫy” khi nghe thẩm định  

Có một số điểm đáng quan ngại trong quá trình phát triển kỹ năng nghe thẩm định. Trước hết là việc khó phân định giữa việc nghe thẩm định và nghe thưởng thức. Một khi đã tập trung toàn bộ tinh thần vào việc giám định chất lượng âm thanh, bạn có thể dễ dàng quên mất lý do đã đưa mình tới thế giới của audio chính là âm nhạc. Điều này cũng có thể khiến bạn có một thói quen không mấy dễ chịu, đó là cứ hễ nghe nhạc là phải tập trung để đưa ra đánh giá xem cái gì đúng, cái gì sai trong âm thanh. Trong khi đó, những thiết bị hi-end thường có màn trình diễn tốt đến mức người nghe không cảm thấy sự hiện diện của các thiết bị phần cứng. Khi nghe nhạc để thưởng thức, người nghe thường không để ý đến thiết bị và quên việc nghe đánh giá. Chỉ nên chuyển sang trạng thái nghe thẩm định khi người nghe cần quyết định lựa chọn sản phẩm hoặc luyện nghe để trở thành người nghe tinh. Một audiophile có bản lĩnh thường xác định được ranh giới giữa nghe thẩm định và nghe thưởng thức và biết khi nào nên vượt qua ranh giới đó.

Cũng có một nguy cơ tiềm ẩn khác, đó là khi tiêu chuẩn về âm thanh theo đôi tai của bạn đã được nâng tới một mức mà ở đó, nếu các thiết bị audio không đáp ứng được những chuẩn này thì bạn không thể thưởng thức âm nhạc một cách trọn vẹn. Điều quan trọng là không thể để việc trở thành một audiophile cản trở thú vui thưởng thức âm nhạc của bạn vì bất kỳ lý do gì.

 

Một trong những khó khăn lớn nhất của nghe thẩm định là tìm ra ngôn từ phù hợp để mô tả những cảm nhận và trải nghiệm trong quá trình nghe. Vốn từ mô tả những phẩm chất âm thanh không chỉ cần thiết trong việc truyền đạt lại những gì mình nghe được cho người khác mà còn giúp người chơi tự ghi nhận và thấu hiểu với những trải nghiệm của bản thân. Bài viết này đề cập đến những khái niệm và vốn từ vựng dùng để mô tả phẩm chất âm thanh của các thiết bị audio.

Trước khi đi vào mô tả từng khái niệm cụ thể, chúng tôi muốn độc giả nắm được hệ thống những thuật ngữ được dùng để mô tả dải tần âm thanh. Dải tần số âm thanh mà tai người nghe thấy trải dài trên 10 quãng tám bắt đầu từ 16 Hz cho tới 20 kHz, có thể được chia thành một số vùng cụ thể theo bảng dưới đây.

Dải tần
Giới hạn

dưới (Hz)

Dới hạn

trên (Hz)

Mô tả
16 40 Deep bass (Bass sâu)
40 100 Middle bass (Bass trung)
100 250 Upper bass (Bass cao)
250 500 Lower Midrange (Trung trầm)
500 1.000 (Middle) Midrange (Trung)
1.000 2.000 Upper Midrange (Trung cao)
2.000 3.500 Lower Treble (Treble thấp)
3.500 6.000 Middle Treble (Treble)
6.000 10.000 Upper Treble (Treble cao)
10.000 20.000 Top Octave (Quãng tám cao nhất)

Sự cân bằng về giọng (Tonal Balance)

Khía cạnh đầu tiên trong màn trình diễn âm nhạc của mỗi thiết bị mà người nghe cần lưu tâm chính là sự cân bằng về chất giọng, sự hài hoà cân bằng giữa âm bass, mid hay âm treble của thiết bị đạt tới mức nào. Nếu âm thanh có xu hướng nhiều treble, có thể gọi là một thiết bị thiên sáng. Nếu tiếng bass lấn át các dải khác, thiết bị đó có được coi như có chất tiếng nặng. Ngược lại, nếu có quá ít tiếng bass, có thể coi thiết bị đó có mỏng tiếng, nhẹ bass hoặc thiên cao. Sự cân bằng về giọng của một thiết bị audio là điều đặc biệt có ý nghĩa, thường có ảnh hưởng lớn tới âm điệu của nó.

Âm hình (Overall Perspective)

Thuật ngữ âm hình mô tả khoảng cách hiện hữu giữa người nghe và âm nhạc. Âm hình chủ yếu thể hiện khoảng cách giữa người trình diễn với microphone, tuy nhiên, nó cũng chịu ảnh hưởng của các thiết bị tái tạo trong hệ thống. Một số thiết bị khiến màn trình diễn như được đẩy lên phía trước, hướng tới người nghe; trong khi đó một số thiết bị khác lại có xu hướng kéo lùi sân khấu lại phía sau. thiết bị có âm hình tiến thể hiện âm nhạc ở phía trước cặp loa, sản phẩm có âm hình lùi thể hiện âm nhạc hơi lùi về phía sau loa.

Một số thuật ngữ khác cũng được sử dụng để mô tả âm hình. Ví như từ khô (dry) thường dùng để mô tả âm thanh thiếu độ vang và không gian, nhưng cũng có thể hiểu được nếu ám chỉ âm hình hơi tiến. Một số cụm từ khác có thể dùng để mô tả âm hình tiến như: trực tiếp (immediate), sắc tiếng (incisive), tấn công (aggressive), chói lọi(vivid)… Những thuật ngữ đi kèm với âm hình lùi thường được dùng như: dịu(easygoing), nhẹ nhàng (gentle).

Tiếng Treble

Tiếng treble hay là yếu tố không thể thiếu trong một hệ thống tái tạo âm nhạc chất lượng cao. Tuy nhiên trên thực tế, có rất nhiều sản phẩm audio xuất sắc lại không thể thoả mãn được yêu cầu về nhạc tính bởi sự yếu kém trong phần trình diễn tiếng treble.

Những đặc tính của tiếng treble mà người chơi audio muốn tránh được thể hiện qua những thuật ngữ như:sáng (tươi), rối, tiến, tấn công, cứng, giòn, sắc, khô, nhợt, chuội, chói, đanh, rít, sạn

Thiết bị audio có tiếng treble với những đặc điểm trên thường khiến người nghe khó tìm được sự thoải mái trong quá trình nghe nhạc. Khi đó, người nghe có cảm giác như tiếng treble không hoà nhập với màn hoà âm tổng thể của bản nhạc, mà tách rời, một mình một điệu. Trong trường hợp này, người nghe sẽ nhận biết tiếng tiếng treble như một thực thể riêng biệt chứ không còn là một yếu tố cấu thành nên âm nhạc. Một số nguyên nhân chính gây ra vấn đề trên như: chất lượng của loa tweeters (loa treble) trong cặp loa, phòng nghe bị dội âm (cao) quá nhiều, các thiết bị nguồn digital (thường là đầu đọc CD), pre-ampli, ampli công suất, dây dẫn và nguồn điện bẩn, nhiễu.

Những thuật ngữ được liệt kê sau đây thường được dùng để mô tả tiếng treble hay như: mượt, ngọt, êm, mịn, nhẹ, dịu… Khi tiếng treble trở nên quá mượt, người ta thường sử dụng từ ướt át hay uỷ mị để chỉ âm thanh của thiết bị. Có thể hiểu, những thuật ngữ như “mượt, ngọt, và mịn” được sử dụng như một sự khen tặng. Ngược lại, “ướt át, uỷ mị” cho thấy tiếng treble đã vượt quá giới hạn cân bằng và thiết bị đã trở nên sai âm.

Những thiết bị có chất tiếng nhạt, đơn điệu, chậm, dày, hẹp,  thiếu chi tiết thường có tiếng treble vượt quá mức mượt mà cần thiết. Một số thiết bị khác lại khiến màn trình diễn âm nhạc thiếu đi sức sống, không gian, độ mở, sự dàn trải nếu tiếng treble quá mềm. Khi đó, âm nhạc chỉ được tái tạo trong một phạm vi hẹp, thiếu độ mở và độ lớn.

Không gian của quãng tám cao nhất thể hiện sự (gần như) không có giới hạn trong độ mở của tiếng treble, khiến người nghe như thấy được lớp không khí bao bọc xung quanh mỗi âm thanh nghe thấy từ nhạc cụ, giọng hát. Những hệ thống không tái tạo được quãng tám cao nhất thường không thể hiện được độ chi tiết của không gian âm nhạc.

Tiếng treble hay nhất là thứ tiếng giống với âm nhạc thực nhất. Để đạt tới điều này, tiếng treble phải giàu năng lượng. Ví như tiếng cybal thật nghe rất mạnh mẽ mà không sạn hay bị khô. Âm thanh tái tạo chỉ được gọi là thành công khi loại bỏ được những thứ âm thanh mà trong nhạc sống không có. Một điều quan trọng , đó là tiếng treble phải là một yếu tố cấu thành và hài hoà với tổng thể âm nhạc chứ không phải là một thứ tiếng ồn ở dải tần cao gây khó chịu cho người nghe.

Trong số này, chúng tôi tiếp tục giới thiệu tới độc giả về trung âm, khái niệm có màn trình diễn chính và quan trọng đối với một thiết bị audio nói riêng và một hệ thống hi-fi nói chung, ngõ hầu giúp độc giả tăng cường khả năng cảm nhận và đánh giá hệ thống trong quá trình nghe thẩm định.

Trung âm là khái niệm rất quan trọng bởi hầu hết năng lượng của âm nhạc đều tập trung ở dải âm này, đặc biệt là hài âm của các loại nhạc cụ. Không chỉ có vậy, dải trung và dải treble thấp cũng tỏ ra nhạy cảm đối với tai người hơn so với giải bass và giải treble cao. Đôi tai người rất thính nhạy với âm thanh thuộc dải tần từ 800 Hz tới 3kHz. Ngưỡng nghe dễ chịu nhất của tai người thường chỉ tập trung vào dải trung âm hơn là các điểm cực trên dải tần của thiết bị. Thứ âm thanh mà tai người thường xuyên nghe thấy hằng ngày như giọng nói, tiếng lá xào xạc, âm thanh của hầu hết các loài động vật… đều thuộc dải trung âm.

Sự sai âm của dải trung có thể gây khó chịu tột cùng cho người nghe. Những bộ loa có tiếng trung thiếu liền lạc, không liền mạch thường cho âm thanh không tự nhiên. Trung âm cũng là yếu tố quan trọng nhất khiến âm thanh của bộ loa trở nên hấp dẫn và ngược lại, có thể tạo nên sự khó chịu dai dẳng đối với người nghe. Một số cặp loa bị sai âm ở dải trung cho thứ tiếng giống với thứ âm thanh khi một người chụm tay bắc loa quanh miệng để nói. Đây là nhược điểm khá phổ biến của những đôi loa hàng chợ.

Những thuật ngữ dùng để chỉ màn trình diễn nghèo nàn và kém cỏi của trung âm có thể kể đến như: mỏng tiếng, sai âm, âm ngực, tiếng thùng, giọng mũi, ông ổng, dày tiếng… Âm ngực là thuật ngữ mô tả sự sai âm của dải trung trầm, khiến người nghe có cảm giác như thể ca sỹ trình diễn bài hát đó đang bị cảm lạnh.Giọng mũi là hiện tượng dư thừa năng lượng và tập trung thái quá vào một quãng tần số nào đó, khiến thứ âm thanh phát ra giống như tiếng người nói trong khi kẹp mũi lại vậy. Ông ổng có tính chất gần giống vớigiọng mũi, song tập trung ở tần số cao hơn và xuất hiện trên dải tần rộng hơn.

Trong khoảng mười lăm năm trở lại đây, công nghệ chế tạo loa đã đạt được những bước tiến đáng kể, do đó hiện tượng sai âm trầm trọng ở trung âm dường như đã khắc phục được tương đối trên hầu hết các thiết bị. Tuy nhiên, vẫn tồn tại hiện tượng này ở những dòng loa rẻ tiền nhưng đã được điều chỉnh một cách tinh vi hơn với mục đích khiến người nghe dễ chấp nhận hơn.

Có một loại sai âm diễn ra ở dải trung trầm vẫn thỉnh thoảng xuất hiện tại những cặp loa hi-end đắt tiền được gây nên bởi sự cộng hưởng và rung động của thùng. Thùng loa sẽ cộng hưởng và rung động ở một số tần số nhất định, tạo ra những năng lượng sóng âm từ thùng khi tần số đạt tới một ngưỡng nào đó ở một số nốt nhạc nhất định. Cộng hưởng thùng khiến âm thanh có vẻ tràn, vống về phía trước một cách thiếu kiểm soát. Lỗi này rất dễ nhận thấy khi nghe một đoạn solo piano: những đoạn chạy ngón nhanh, mạnh ở tay khiến các nốt nhạc dường như trỗi hẳn so với các nốt còn lại của bản nhạc. Vấn đề này phát sinh bởi hiện tượng tăng năng lượng đột ngột của một dải sóng âm. Bên cạnh đó, một số hoạ âm còn được tạo ra bởi cộng hưởng thùng.

Khi lựa chọn loa, người chơi nên dành nhiều thời gian để thẩm định tiếng trung của hệ thống xem có xảy ra hiện tượng sai âm hay không. Chỉ một vấn đề rất nhỏ hoặc thoảng qua khi nghe thẩm định cũng có thể trở thành vấn đề chính, triền miên gây khó chịu cho người nghe trong suốt thời gian sử dụng sau này.

Một yếu tố quan trọng trong màn trình diễn của dải trung, đó là cấu trúc một bản nhạc được tái tạo như thế nào. Cấu trúclà điều người nghe cảm nhận được một cách cảm tính đối với âm thanh của bản nhạc, nó mang tính kết cấu và liên tục nhiều hơn là âm thanh ở một thời điểm.

Thuật ngữ sạn – từng được đề cập đến ở kỳ trước khi mô tả tiếng treble có vấn đề – cũng được sử dụng khi mô tả một khiếm khuyết của trung âm. Trên thực tế, sạn ở trung âm có thể gây khó chịu hơn cả sạn ở dải treble. Sạn tiếng ở trung âm có thể được cảm nhận khi âm thanh của nhạc cụ và giọng hát được tái tạo một cách thiếu tinh tế, có độ phô.

Một cặp loa có thể có cấu trúc âm trung cứng và giòn. Cấu trúc cứng thường lộ rõ qua những đoạn hợp xướng, giọng hát bè với thứ âm thanh phô, gắt gỏng, thiếu chân thực. Vấn đề này càng trở nên tồi tệ hơn khi người nghe thưởng thức ở mức âm lượng lớn. Với âm lượng nhỏ, hiếm khi phát hiện ra tình trạng này. Tiếng piano cũng bộc lộ rõ nét cấu trúc âm trung cứng, với cặp loa có hiện tượng này, những nốt cao của piano nghe rất giòn và khó chịu. Khi trung âm không có những biểu hiện trên, có thể gọi đó là thứ cấu trúc âm êm, mượt, ngọt, dịu hoặc tinh tế.

Một vấn đề khác tồn tại ở dải trung âm đó là hiện tượng xé tiếng. Hiện tượng này là sự kết hợp của hệ thống loa bị mỏng tiếng (thiếu độ ấm), cứng tiếng và tràn tiếng. Tất cả những hiện tượng trên đều xuất hiện và tập trung tại dải trung. Xé tiếng cũng có thể xuất hiện khi dải trung trầm của cặp loa bị mỏng tiếng khiến dải trung cao trội lên trên toàn bộ màn hoà âm. Một sản phẩm audio luôn bị đánh giá rất thấp khi có hiện tượng xé tiếng.

Thông thường, khi một thiết bị mắc quá nhiều lỗi ở trung âm cũng như âm treble thường bị gọi là phô tiếng. Khi chọn mua một thiết bị, đặc biệt là cặp loa, người chơi nên dành nhiều thời gian để tập trung vào thẩm định trung âm – dải âm có tần suất nghe được lớn nhất trong suốt quá trình thưởng thức âm nhạc của người nghe. Những chương trình dùng để thử thường là các đĩa ghi giọng hát, đặc biệt là giọng opera, giọng bè của dàn đồng ca, đĩa solo piano, kèn sax…

Ở các kỳ trước, chúng tôi đã chia sẻ với độc giả các khái niệm liên quan đến âm treble và trung âm của hệ thống. Trong số báo lần này, âm bass là nội dung chính được chúng tôi đề tập tới. Với bất kỳ một cặp loa nói riêng và một hệ thống audio nói chung nào, việc tái tạo âm trầm sao cho tự nhiên là điều khó khăn nhất. Với những triết giải mang tính gợi mở về âm trầm, hy vọng phần nào có ích đối với độc giả trong quá trình set-up một hệ thống âm thanh cho âm tiếng trầm hợp lý.

Quý hồ tinh bất quý hồ đa

Tiếng trầm là nguyên nhân chính gây “phiền hà” trong quá trình tái tạo âm thanh của một hệ thống hi-fi. Một suy nghĩ khá phổ biến là càng nhiều tiếng bass càng hay. Chính vì thế nhiều hệ thống nghe nhạc đã được bổ trợ thêm chiếc subwoofer hoặc các núm chỉnh âm bass trên ampli được vặn hết cỡ về bên phải. Sự phối ghép này tạo ra tiếng bass có thể làm căn phòng rung lên bần bật khiến người nghe tức ngực. Kết quả cuối cùng mà người nghe nhận được trong trường hợp này là một tập hợp những thanh âm lùng bùng, ầm ĩ và lẫn lộn. Đặc biệt, những âm thanh của bản ghi thuộc về dải dưới được tái tạo với chất lượng rất thấp.

Trên thực tế, cái mà người nghe nhạc quan tâm, đó là âm nhạc được tái tạo như thế nào, chứ không phải là những màn trình diễn rung trời chuyển đất. Điều quan trọng đối với người yêu nhạc không phải là sự nhiều ít của tiếng bass, mà là chất lượng trình diễn của nó. Người sành nghe không chỉ tìm kiếm sự hiện hữu vật chất của tiếng bass mà hơn thế nữa, đó là thứ âm thanh huyền ảo với đầy đủ sắc thái của âm trầm. Ví như những người hay nghe nhạc jazz và nhạc cổ điển, thường tìm kiếm những hệ thống tái tạo chính xác từng nốt búng, gảy dây trên cây đàn contra-bass. Người nghe cần cảm nhận được từng nốt trầm của bản nhạc ngay cả khi nó được chơi với tốc độ lớn trong một màn hòa âm phức tạp. Nếu nghe các nghệ sỹ contra-bass như Ray Brown, Stanley Clarke, John Patitucci, Dave La Rue, Dave Holland hay Eddie Gomez trình diễn, hẳn người nghe muốn được thưởng thức chính xác những gì họ chơi. Nếu âm bass của hệ thống dở tệ, thì tốt nhất hãy để chúng xuất hiện ít để giảm thiểu khó chịu tới người nghe.

Việc tái tạo tiếng trầm chính xác là điều thiết yếu tạo nên sự thỏa mản tổng thể của quá trình tái tạo âm nhạc. Âm thanh tần số thấp tạo nên âm nền và giữ nhịp cho toàn bộ bản nhạc. Tuy nhiên, một điều không may là tiếng trầm là phần khó tái tạo nhất của bất kỳ một thiết bị nào, dù là các thiết bị nguồn, ampli và đặc biệt là cặp loa hay phòng nghe.

Có lẽ, vấn đề phổ biến nhất của tiếng trầm đó là tính chi tiết và sự chính xác của cao độ . Hai thuật ngữ trên mô tả khả năng tái hiện tiếng bass bóc tách thành từng nốt nhạc khác nhau, mỗi nốt ở một cao độ và sắc thái khác nhau, nốt nọ dứt nốt kia chứ không chồng chéo, lẫn lộn. Âm trầm tái tạo phải chân thực và chính xác tới mức, người nghe phải phân biệt được đâu là tiếng bass được tạo ra từ cộng hưởng giữa cây vĩ với bộ dây trên cây đàn contra-bass, đâu là tiếng bass được tạo ra trên cây bass điện Fender Percision. Khi được tái tạo chính xác, âm thanh ở tần số thấp có thể khiến người nghe phải ngạc nhiên bởi độ chi tiết của chúng.

Khi hệ thống tái tạo âm trầm thiếu chi tiết và không có sự phân biệt rành mạch về cao độ của từng nốt nhạc, toàn bộ dải trầm sẽ biến dạng thành một âm nền lộn xộn. Người nghe có thể thấy được tiếng trầm, nhưng thứ âm thanh đó thiếu nhạc tính và không có độ gắn kết với những dải âm còn lại trong bản nhạc. Hệ thống như vậy sẽ không tái tạo được các nối nhạc một cách chính xác và đánh mất toàn bộ âm hình của hệ thống. Với một số thể loại âm nhạc mà tiếng trầm đóng vai trò quan trọng trong việc giữ nhịp như rock, nhạc blue điện tử và một số thể loại jazz thì tiếng guitar bass và tiếng trống bass thường có độ trễ so với các âm thanh của các nhạc cụ khác, khiến âm thanh tổng thế có phần lỗi nhịp. Hơn thế nữa, tiếng trống bass thường bị tiếng guitar bass nhấn chìm làm giảm nhạc tính nói riêng và chất lượng trình diễn tổng thể của loại nhạc cụ này nói chung. Màn trình diễn bè trầm thuyết thuyết phục này còn trở nên tồi tệ hơn với những hệ thống có tiếng bass lớn. Và đây cũng là lỗi tiếng trầm hay gặp nhất bởi cấu hình ban nhạc gồm bass điện và trống bass rất phổ biến.

Một số thuật ngữ

Một số thuật ngữ được dùng phổ biến để mô tả tiếng trầm kém chất lượng như: đục, dính, vỡ tiếng, tràn (vống tiếng), kéo đuôi, thiếu lực, đần, lùng bùng  chậm. Ngược lại, thuật ngữ dùng để tả tiếng bass được tái tạo một cách xuất sắc gồm: căng, nhanh, sạch, rõ ràng, nhẹ nhàng, chặt  chính xác.

“Liều lượng” của âm trầm trong toàn bộ màn trình diễn âm thanh là yếu tố rất quan trọng. Nếu nghe thấy quá nhiều tiếng bass, âm nhạc sẽ bị lấn lướt bởi bè trầm. Tiếng bass dư thừa sẽ luôn “nhắc” người nghe rằng họ đang nghe thứ âm thanh tái tạo chứ không phải âm thanh tự nhiên. Sự dư thừa tiếng bass được gọi là nặng tiếng (heavy).

Trong trường hợp ngược lại, tức là quá ít tiếng bass, hệ thống được coi là mỏng tiếng. Một hệ thống mỏng tiếng sẽ làm giảm nhạc tính tổng thể và không thể hiện được tiếng trầm đầy uy lực của cây bass điện, độ hoành tráng và sâu thẳm của tiếng kick-drum, sự run rẩy, gầm gừ của cây vĩ trên chiếc đàn contra-bass… Tiếng bass mỏng sẽ khiến âm thanh của cây double bass nghe giống như tiếng cello, tiếng cello lại giống tiếng viola, tiếng trống bass mất đi sức nặng và tác động cần thiết lên bản nhạc trên góc độ tổng thể. Màn trình diễn bị mỏng tiếng thiếu độ ấm áp và cảm giác hiện hữu của nhạc cụ.

Thuật ngữ khác có liên quan đến chất lượng của âm trầm là độ mở hoặc độ sâu của tiếng bass. Độ mở là khả năng tiếng bass xuống thấp tới mức nào, không phải là thứ tiếng bass hoặc bass cao được mô tả có liên quan đến sự dày mỏng hay nặng nhẹ. Thuật ngữ này dùng để chỉ thứ âm bass sâu nhất trên dải âm mà tai người có thể nghe thấy. Một số loại nhạc cụ tái hiện được thứ âm thanh này gồm kick drum và organ hơi (hoặc organ nhà thờ). Gần như tất cả mọi hệ thống – ngoại trừ những hệ thống âm thanh cực kỳ cao cấp – đều có hiện tượng suy giảm (âm lượng) của các dải tần ở mức rất thấp. Thật may mắn, độ mở cực đại của tiếng bass lại không phải là điều kiện tiên quyết ảnh hưởng tới chất lượng tái tạo âm nhạc ở mức cao. Nếu một hệ thống âm thanh có khả năng tái tạo bè trầm xuống đến 35Hz thì người nghe gần như không cảm thấy thiếu tiếng trầm. Chỉ có những người nghiện tiếng trầm hoặc hay nghe đàn organ hơi thì mới cần tới những hệ thống có thể tái tạo tiếng trầm sâu hơn nữa. Một điểm mà người chơi cần lưu ý, đó là thiết bị càng có khả năng tái tạo âm trầm sâu một cách chính xác càng có mức giá không mấy dễ chịu, nếu không nói là rất đắt.

Những hiện tượng sai âm thể hiện ở đỉnh và đáy của dải tần có thể khiến trung âm và âm trầm trở nên thiếu tự nhiên. Hiện tượng sai âm ở bè trầm tạo nên màn trình diễn buồn tẻ, đều đều khiến người nghe chóng mệt. Một trong những ví dụ điển hình được gọi với thuật ngữ là “bass một nốt”. “Bass một nốt” khiến âm nhạc bị biến dạng, và bè trầm chỉ là những tiếp đập thiếu âm điệu buồn chán.

Để có tiếng bass đẹp

Có được tiếng trầm trung thực và tự nhiên là mong muốn của bất kỳ một dân chơi audio nào. Đây cũng là “cảnh giới” khó vượt qua nhất trong quá trình set-up một hệ thống nghe nhạc, ngay cả đối với các nhà sản xuất thiết bị audio hàng đầu thế giới chứ chưa nói tới người nghe. Tuy nhiên có thể khắc phục và hạn chế những vấn đề ngoài mong muốn liên quan đến bè trầm.

Trước tiên, muốn có được tiếng bass sâu đến đâu, được thể hiện ở nhạc cụ nào, người chơi cần lựa cho mình một đôi loa có dải tần thấp xuống được tương ứng. Tiếp đó, mỗi một cặp loa cần được bố trí trong một căn phòng có diện tích tương ứng theo nguyên tắc, loa càng lớn hoặc đường kính loa bass càng lớn thì diện tích phòng càng lớn. Ngoài ra, việc kê, đặt loa ở vị trí nào trong phòng cũng ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng của tiếng bass. Nếu có điều kiện, một cặp loa nên được đặt cách tường sau tối thiểu 1m và cách tường bên tối thiểu 0,5m. Các thiết bị đánh cặp cũng là yếu tố quan trọng quyết định chất lượng của tiếng bass. Với những đôi loa kín không lỗ thông hơi cộng với độ nhạy và trở kháng thấp, người chơi cần nhắm tới những bộ ampli có công suất lớn với trở kháng xuống được thấp, và đặc biệt, bộ cấp nguồn phải có chất lượng rất cao để đảm bảo luôn cung cấp đủ và bù năng lượng vào đúng thời điểm mà hệ thống yêu cầu. Ngoài ra, hệ thống phụ kiện như dây nguồn, lọc nguồn, dây dẫn và dây loa cũng có những ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng tái tạo tiếng bass tự nhiên và quyết rũ của bộ dàn.

Box

Trước đây, những cặp loa đứng hoặc loa monitor cỡ lớn như Altec, JBL, Coral… với đường kính loa bass từ 30cm tới cả thước là đích ngắm của những người coi trọng dải trầm. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, những cặp loa bass có đường kính lớn thường gặp vấn đề về tốc độ cũng như khả năng phối hợp với phòng nghe bởi chúng làm dịch chuyển một khối lượng khí rất lớn, dất rễ va đập với tường và các vật dụng trong phòng gây ra hiện tượng dội âm. Hiện nay, với sự xuất hiện của những loại vật liệu mới trong quá trình chế tác củ loa, thùng loa và vật dẫn, nhiều hãng loa đã thu nhỏ được đáng kể đường kính loa bass, thùng loa, đồng thời nâng cao độ chi tiết, độ động của tiếng bass đáng kể như Wilson Audio, Kharma, Marten…

Âm hình là thuật ngữ mô tả kích thước hiện hữu của không gian âm nhạc được tái tạo bởi hệ thống audio. Khi nhắm mắt lại trước một hệ thống âm thanh chất lượng tốt, người nghe có thể hình dung được nhạc cụ, ca sỹ phía trước xuất hiện trong không gian biểu diễn như thể tại một phòng hòa nhạc thực sự. Âm hình có những đặc điểm vật chất cụ thể như độ rộngchiều sâu. Hai yếu tố này kết hợp khiến người nghe có được sự cảm nhận về không gian biểu diễn của dàn nhạc ngay trong phòng nghe. Âm hình là khái niệm bao trùm cả thuật ngữ không gian, là khái niệm dùng để chỉ cách mà nhạc cụ hiện diện trong không gian ba chiều của bản nhạc trong quá trình được hệ thống tái tạo.

Trong tất các thành phần tái tạo nên âm thanh – âm nhạc thì âm hình là yếu tố góp phần lớn nhất tạo ra cảm giác kỳ diệu và sống động đối với mỗi hệ thống stereo. Song trên thực tế, cảm giác kỳ diệu ấy lại được tạo nên bởi những yếu tố khá đơn giản: cặp loa trong hệ thống được đánh bởi hai dòng tín hiệu điện biến đổi về điện áp theo mỗi thời điểm trong không gian hai chiều. Chỉ với hai đại lượng biến thiên trên cũng có thể vẽ nên một không gian âm thanh ba chiều có hình khối, kích thước rõ ràng. Với một hệ thống audio có âm hình tốt, người nghe sẽ không cảm thấy mình đang nghe thứ âm thanh được xếp hàng ngang, phẳng và hẹp về chiều sâu. Thay vào đó, người ta có thể cảm nhận rõ ràng vị trí của nhạc công violin số một phía bên trái gần vị trí nghe hơn, âm thanh của bộ đồng xuất hiện phía sau dàn contra-bass phía bên phải, tiếng lục lạc kêu lanh lảnh phía xa-nơi xa nhất trong toàn bộ dàn nhạc. Bản nhạc được cấu thành bởi các âm thanh tách biệt, hiện hữu trong không gian, như thể người nghe đang ngồi trong một nhà hát thực sự. Hơn thế nữa, người nghe còn được nghe âm hưởng của cây oboe phát ra từ vị trí của người chơi oboe, âm hưởng của violin phát ra từ vị trí người chơi violin, những âm dội từ khán phòng bao bọc quanh các nhạc cụ… Những giới hạn về không gian của phòng nghe dường như biến mất và thay thế bởi một phòng hòa nhạc mênh mông. Tất cả chỉ với hai đại lượng điện áp.

Âm hình được tạo nên trong bộ não của người nghe bởi độ biến thiên được mã hóa trên hai kênh âm thanh. Khi người nghe cảm nhận được vị trí phát âm của các nhạc cụ nằm phía sau sân khấu là lúc đôi tai hay não bộ đã tổng hợp được những thông tin trong quá trình xử lý những điểm khác biệt giữa hai dòng tín hiệu được truyền tới tai.

Các thiết bị audio thường có sự khác biệt rất lớn trong khả năng tái tạo đặc tính này của âm nhạc. Một số sản phẩm thường ép cho âm hình như dãn ra về hai bên và rút ngắn chiều sâu của nó. Một số khác lại có thể tái tạo đầy đủ và chính xác thứ âm hình tương tự như một không gian biểu diễn thật. Âm hình được coi là yếu tố cốt lõi trong việc tái tạo nên thứ âm nhạc thỏa mãn người nghe. Tuy nhiên, thật không may khi rất nhiều thiết bị âm thanh chất lượng không tốt đã góp phần làm hỏng âm hình của hệ thống.

Một số thuật ngữ mô tả âm hình tồi của hệ thống như hẹp hoặc , âm nhạc như bị nén lại giữa hai chiếc loa, chứ chưa có khả năng phát triển và “bọc” lấy người nghe. Âm hình thiếu chiều sâu bị gọi làphẳng hoặc mỏng tiếng. Lý tưởng nhất, độ mở của âm hình nên nhỉnh hơn chiều sâu của nó. Tuy nhiên, âm hình bị bó lại phía sau cũng sẽ làm suy giảm không gian trình diễn của bản nhạc.

Ảo giác về chiều sâu của âm hình được tăng thêm bởi sự tái tạo những âm thanh cộng hưởng của nhạc cụ trong không gian biểu diễn thực. Quả thực, sự dội âm giảm dần sau khi đạt cao trào trước những khoảng lặng đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành không gian âm nhạc. Tín hiệu lớn cũng giống như ánh đèn flash trong một căn phòng tối; ở khoảnh khắc đó không gian âm nhạc được định vị rõ ràng, cho phép người nghe “nhìn” thấy các chiều kích thước và đặc tính của âm hình.

Để tạo nên ấn tượng về sự hiện hữu có thực của các loại nhạc cụ trong không gian âm nhạc mà hệ thống trình diễn, bản thân những âm cộng hưởng trong không gian biểu diễn thực cũng phải tách biệt so với không gian định vị của các nhạc cụ. Những thiết bị audio tầm tầm khó có khả năng tái tạo được kiểu hồi âm trong không gian như vậy, hiển nhiên, chúng khiến cho chiều sâu của sân khấu bị ngắn lại, làm cho âm dội trùng vào âm hình của từng nhạc cụ gây cảm giác lộn xộn cho người nghe.

Những thuật ngữ được dùng để mô tả âm hình tốt như: tập trungchặt chẽrõ ràng. Những đặc tính của hình ảnh cũng được mô tả như: hình ảnh chặt chẽ, tập trung, định vị rõ ràng. Một âm hình tồi thường đi kèm với những thuật ngữ như: lẫnthiếu mạch lạclộn xộnnénthiếu tập trung

Một yếu tố quan trọng khác thường được đề cập mỗi khi nhắc tới âm hình, đó là lớp lang. Thuật ngữ ngày dùng để chỉ khả năng phân tách vị trí xuất hiện trước sau của từng nhạc cụ trong một không gian âm thanh tổng thể. Càng xuất hiện nhiều lớp lang trong âm hình, hệ thống càng được đánh giá cao.

Để đánh giá được âm hình của một hệ thống, người nghe cần phải có những bản ghi chất lượng cao, tốt nhất là những bản thử máy có mục dành cho âm hình như CD thử máy của các hãng thâu âm danh tiếng trên thế giới vẫn làm. Trên thực tế, để phối ghép nên một hệ thống có âm hình chuẩn là công việc không hề đơn giản, nó vừa phụ thuộc vào khả năng trình diễn của từng thiết bị, vừa phụ thuộc vào sự tương thích lẫn nhau giữa các thiết bị, lại phụ thuộc vào phòng nghe và cách kê đặt loa, lựa chọn vị trí ngồi nghe. Tuy nhiên, các yếu tố liệt kê trên không buộc người nghe phải bỏ cả gia tài để đầu tư vào hệ thống audio mới có được một âm hình chuẩn, điều này phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm và tài phối ghép, bố trí thiết bị của người chơi.

(theo Nghe nhìn Việt Nam)